Nghiên cứu hiện đại về não bộ đã tìm thấy nhiều minh chứng về tính
có thể thay đổi được cho đến tuổi rất cao của não bộ. Bức tranh về người già bị
phó mặc cho suy vong, không thể tiếp tục đúng nữa đối với não bộ. Những não bộ
già thậm chí vẫn có thể đạt tới những thành tích tột bực. Cụ thể là, nếu não bộ
không thể thay đổi được thì sau một cú đột quỵ, các bệnh nhân già không bao giờ
có thể hồi phục lại được. Ở bệnh đột quỵ, tuần hoàn máu thất bại ở các phần của
não bộ và khi không có oxy thì chỉ cần vài phút là những tế bào não bị ảnh
hưởng sẽ chết ngay. Trong những trường hợp nặng, các bệnh nhân đột quỵ không
còn nói được nữa, thân thể bại liệt hay mất nhiều khả năng khác. Ở não bộ “hoàn
chỉnh” không thể thay đổi được thì lẽ ra những khuyết tật này sẽ là vĩnh viễn,
nhưng điều đó lại không đúng. Chính các phần khỏe mạnh lại có thể tiếp quản
những chức năng đã ngừng hoạt động, một phần hay tái tạo lại toàn bộ. Não bộ có
thể thậm chí tự mình phục hồi bằng cách xây dựng những tế bào thần kinh mới.
Như vậy, não bộ già tỏ ra giống hệt như não bộ trẻ, tức là có khả năng thích
nghi đáng ngạc nhiên và có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Ở bệnh đột quỵ hay ở
vết thương, khác biệt cơ bản giữa các não bộ thể hiện thậm chí hết sức rõ rệt
trước và sau tuổi trung niên. Những tổn thương ở người già lại ít bi đát hơn
nếu so với người trẻ (Roth 2003). Ở não bộ già, những điều đã học được lưu trữ
theo những mối liên quan lớn hơn và bằng cách này được phân bố trên những phần
lớn hơn của não bộ (Kalisch và đồng sự, 2008). Bởi thế, sự thiếu hụt những phần
nhỏ ít gây mất mát hơn, trong khi những người trẻ thường phải chịu những thiếu
hụt bi đát.
Trong khoa học xuất hiện bức tranh “não bộ dẻo” cả đời thích nghi,
tiếp nhận những nhiệm vụ mới và vẫn có thể tự biến đổi ở tư cách là một bộ phận
cơ thể. Mỗi khi học, những khu vực có liên quan trong não bộ đều phát triển.
Những nghiên cứu trên người thiền cho thấy những phần nhất định trong não bộ
của họ to hơn những người đối chứng. Chúng phát triển theo các năm hoạt động
thiền cho đến tuổi cao (Lazar và đồng sự, 2005; Luders và đồng sự, 2009;
Vestergaard-Poulsen và đồng sự, 2009). Vậy là luyện tập đem lại năng suất hoạt
động bằng cách khởi động một sự thích nghi. Điều đó cũng tương ứng với kinh
nghiệm của nhiều người già và các nhà liệu pháp học. Người nào biết cách giữ
cho mình luôn tỉnh táo tinh thần, luôn đặt chính mình trước những thách thức
mới, tìm cách tiếp xúc những người khác, thì họ hầu như không bao giờ cam chịu
những thiếu hụt ở não bộ của mình. Nếu như vẫn có rất nhiều người già bị suy
giảm về tinh thần thì nguyên nhân lại nằm ở lối sống đơn điệu và sự thoái lui
khi gặp những thách thức về tinh thần. Các khảo cứu cho thấy là ngay cả những
người trẻ cũng làm suy giảm trí tuệ của mình nếu họ chuyển qua một lối sống ít
có thách thức hơn về mặt tinh thần. Những thách thức về mặt tinh thần luyện tập
cho não bộ và qua đó gia tăng năng suất hoạt động của nó. Bởi vậy, những người
già thiền đặc biệt có năng suất cao, vì trong sự phát triển của não bộ không hề
có giới hạn về tuổi tác. Ngay cả người già cũng vẫn có thể bắt đầu với việc
thiền và phát triển, cải thiện năng suất hoạt động tinh thần của mình cho đến
tận cuối đời.
Các bậc của thiền
Con đường đi của người thiền được theo dõi tỉ mỉ và xem xét kỹ
lưỡng kể từ ít nhất 2.500 năm nay. Các trước tác Phật học đã bám chặt theo học
thuyết của Đức Phật Gautama [Cồ Đàm, tức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni - ND]. Một
cách đặc trưng là những người thiền trải qua chín bậc “tĩnh lự”. Bốn bậc đầu
tiên vẫn còn được cảm nhận thuộc thân thể và được gọi là “lĩnh vực tri thức”.
Các bậc sau từ thứ năm tới thứ tám trước hết đặc trưng bởi sự phát triển trí
tuệ và được tập hợp lại thành “lĩnh vực nhận thức”. Bậc thứ chín là bậc giác
ngộ. Bậc thứ mười chỉ đạt tới sau khi diệt độ và nằm ngoài khoa học thuộc lĩnh
vực thế giới quan.
Có những bậc thầy lại chỉ phân biệt giữa 3 bậc trên con đường đi
tới giác ngộ. Những bậc này liên quan tới con đường của nhân cách, ứng xử bản
thân và nhận thức. Đây chính là trọng tâm của một cuốn sách đáng xem do Dalai
Lama viết (2003). Việc ngài chia thành ba bậc không hề mâu thuẫn với chín bậc
mà Đức Phật vốn đã nói đến: đối với người thiền, việc thay đổi giác độ là dĩ
nhiên nếu một mục tiêu khác cũng đòi hỏi một cách xem xét khác.
Con đường chín bậc của người thiền làm ta nhớ tới sự phát triển ở
thời thơ ấu và thanh niên, được tiên định bởi sự phát triển của não bộ. Chính
là những phát triển thường xuyên ngăn cản những phát triển mang tính giải thoát
(loại bỏ trở ngại). Nhờ thế, chẳng hạn những trẻ 3 tuổi phát hiện ra nhân cách
độc lập của chính mình và đi đến “tuổi lì”. Rõ ràng là chúng được giải thoát,
bởi vì câu “con chẳng muốn” sẽ được tập luyện bằng bất cứ giá nào. Từ đó, đứa
trẻ học ứng xử với nhân cách mà mình vừa mới nhận được và phát hiện ra những
khả năng làm cho nó phù hợp với những người khác. Rồi những đứa trẻ 5 tuổi đã
tiến xa trong sự phát triển của mình tới mức chúng tìm hiểu thế giới với sự
chân thành và hiếu kỳ, nhưng cũng đã nhận biết lập trường của chính mình và có
thể phân giới nó với người khác. Cả hai bước trên đều sự phát triển lành mạnh.
Khi đó, đứa trẻ 3 tuổi hừng hực giận dữ cho thấy rằng tuy các bước phát triển
riêng lẻ không luôn dễ chịu nhưng lại cần thiết. Các bác sĩ nhi sẽ được báo
động khi giai đoạn lì bị bỏ qua, bởi lẽ điều đó là dấu hiệu chỉ ra rằng sự phát
triển lành mạnh đã bị phá vỡ.
Con đường thiền với chín bậc “tĩnh lự” cũng diễn ra hệt như vậy.
Mỗi bậc thuộc về một bậc đôi và có tên gọi tương ứng.
1. Trí tuệ và 2. Lôgic: Sau khi thu thập kiến thức, kế đến là việc xem xét và nhận biết
các qui tắc.
3. Hiểu biết và 4. Lý trí: Hiểu biết thay thế cảm xúc, thế nhưng ai đã hiểu ra nhiều
thì cũng dễ rơi vào tình trạng ý nghĩ lan man. Lý trí hạn chế những ý nghĩ lan
man và chỉ ra những con đường phía ngoài các giải pháp lược đồ hóa.
Đến đây, trước hết người ta đã thu thập kiến thức, sau đó học được
cách ứng xử đúng đắn với nó. Bốn bậc đầu tiên của “tĩnh lự” tương ứng với bậc
cơ bản, nghĩa là những bài học cơ bản trên con đường thiền.
Kế tiếp là các bậc cao hơn của “tĩnh lự”:
5. Thông minh và 6. Trực giác: Tri thức thuần túy là phân tích, xé lẻ đối tượng nhận thức
ra thành các phần và nghiên cứu nguyên nhân và kết quả. Trực giác xử lý các
phần như là một “khối”, không còn xé lẻ một cách nhân tạo nữa mà tóm bắt các mối
liên quan cũng bằng những cảm xúc và giá trị liên
quan.
7. Cảm hứng và 8. Hiểu thấu: Ở đây sẽ nhìn xuyên thế giới phía sau của từng cái riêng lẻ
và cuối cùng phát hiện cái mà các giác quan không còn có thể nhận thức được
nữa.
Kết quả là 9. Thông thái, theo nghĩa giác ngộ.
Sau các bước này cũng là các bước luyện tập não bộ, sẽ được làm rõ
khi xem xét kỹ hơn những cảm xúc và trải nghiệm ở mỗi bậc. Khi đó, người thiền
phải biết rằng anh ta bắt đầu với bậc “số không”. Đạt tới bậc đầu cũng đã là
một bước đáng kể trên con đường thiền.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét